
khấu đầu tưởng niệm, tri ân Người đã đem tâm huyết và trí tuệ để
—Hoằng dương Chánh Pháp;
trong niềm kính ngưỡng và lòng tiếc thương vô hạn.
,Chúng con xin kính tiễn bái biệt Hòa Thượng và hứa sẽ tiếp tục theo dấu chân Ngài để phụng sự vì Chánh Pháp.
,Chúng con đã viết lời tưởng niệm để bái biệt, kính tiễn Người trong nước mắt; như chính những dòng nước mắt mà Ngài đã tuôn trào không dứt, khi Hòa Thượng đến chiêm bái 4 Thánh Tích trên đất Phật.
,Ngưỡng mong nơi Chư Thiên Thánh Địa, giác linh Người chứng minh cho tấm lòng thành kính và nỗi niềm tiếc thương vô hạn của chúng con.
,Dưới giác linh Hòa Thượng, chúng con xin cất cao lời
—TÁN THÁN 4 CÔNG ĐỨC
lớn lao và hy hữu-hiếm có của Ngài; những Công Đức dự phần vào Trí Tuệ, về Phước Vô Lậu, Xuất Thế; hướng đến đích Giác Ngộ và Giải Thoát:
,Một là:
-Sau quá trình nghiên cứu và học tập, Người đã xác định được rằng:
,Duy chỉ có nơi đây là Con Đường dẫn đến Trí Tuệ, Giác Ngộ và Giải Thoát.
,Từ đây, Hòa Thượng đã đầu tư gần như toàn bộ thời gian, trí tuệ, sức lực và tâm huyết của mình trong suốt quãng đời còn lại; để phiên dịch và ấn hành trọn bộ Đại Tạng Kinh-Nikaya sang tiếng Việt.
,Nhờ vậy, những ai có đủ phúc đức, nhân duyên và trí tuệ được biết, được hiểu về
CON ĐƯỜNG GIẢI THOÁT
̀để định hướng và tu tiến; không còn bị sa lạc vào ngoại đạo, tạp giáo, tà thuyết.
,Từ đó, Ngài đã mở ra 1 trang lịch sử mới cho nền Phật Giáo Việt Nam; mốc chấm dứt hàng ngàn năm khoa trương, bành trướng và mị dân của tập đoàn Đại Thừa phi Phật Giáo cũng như một số
GIÁO PHÁI

mang danh Đạo Phật đương thời.
,Hai là:
,Dù ở vị trí cao trong giáo đoàn Bắc phái, nhưng Ngài đã sáng suốt lựa chọn và quyết định chuyển đổi thân tướng để khoác lên mình bộ Y phục Chân Chánh và Hợp Pháp; của 1 người Tu Sĩ Phật Giáo, theo đúng Truyền Thống Tăng Sĩ thời Đức Phật.
,Qua hình ảnh ấy, Hòa Thượng đã làm tấm gương nhắc nhở, khuyến khích và cảnh tỉnh cho đa số hàng Tu Sĩ hậu học, cũng như môn đồ, đệ tử.
(Tiếc thay, thiện ý của Người ít có ai hiểu biết để noi gương và học tập)
,Ba là:
,Ngài đã nhận thức đúng đắn về
VẤN ĐỀ CHAY-MẶN;
;và cho phép cũng như khuyến khích môn đồ, đệ tử được dùng Tam Tịnh Nhục; thực hành sự ăn uống tùy thuận và không phân biệt.
,Từ đây, Hòa Thượng đã phá vỡ ý thức hệ liên quan đến quan niệm sai lầm về
ĐẠI THỪA-TIỂU THỪA

đã hằn sâu trong ý nghĩ của tuyệt đại đa số quần chúng.
,Bốn là:
,Người đã dâng trào nỗi niềm xúc động vô cùng, với trọn tình lòng yêu kính đối với Đấng Đạo Sư; khi Hòa Thượng đến chiêm bái 1 trong 4 Thánh Tích của Đức Như Lai trên đất Phật.
,Sự xúc động mãnh liệt ấy, chỉ khởi lên với những ai có tâm thuần kính, hướng về Đạo Lộ.
,[PS:
,Sau khi Người vừa viên tịch, chúng con nhận thấy có nhiều lời Bình-Luận đối lập nhau về Ngài.
,Tuy nhiên, chúng con biết rằng:
-Trong bối cảnh xã hội có nhiều biến động và trong thực trạng rối ren, hỗn tạp của Tôn Giáo-Phật như hiện nay; thì phần Hòa Thượng khó có thể làm được nhiều hơn, so với lòng mong muốn.
,Với 4 công đức lớn của Người như chúng con tán thán, thì hiện tại trên thế gian đã không dễ còn có ai so sánh được]

TIỂU SỬ
CỐ ĐẠI LÃO HÒA THƯỢNG
THÍCH MINH CHÂU.
,Hòa Thượng Thích Minh Châu - sinh năm 1918 tại tỉnh Quảng Nam.
,Xuất gia năm 1946 tại chùa Tường Vân, Huế.
,Từ năm 1952 đến năm 1961, Hòa Thượng xuất dương du học và đậu bằng Tiến sĩ Phật Học với luận án
"So sánh Tạng Pàli Trung Bộ Kinh với Tạng Hán A Hàm"
(The Chinese Madhyama Agama and the Pàli Majjhima Nikàya a comparative Study)
tại Đại Học Phật Giáo Nalanda, Ấn Độ.
,Công đức HT phiên dịch 5 bộ Kinh Tạng Nikàya ra tiếng Việt, gồm:
-Trường Bộ Kinh (Digha Nikàya);
-Trung Bộ Kinh (Majjhima Nikàya);
-Tương Ưng Bộ Kinh (Samyutta Nikàya);
-Tăng Chi Bộ Kinh (Anguttara Nikàya);
-Tiểu Bộ Kinh (Khuddaka Nikàya).
,Từ năm 1964 đến năm 1975, sau 14 năm du học ở nước ngoài, Hòa Thượng trở lại quê nhà và giữ chức vụ Viện Trưởng Viện Đại Học Vạn Hạnh, chuyên lo sự nghiệp giáo dục và phiên dịch Kinh Tạng Pàli.
,Năm 1976, Hòa Thượng thành lập Viện Phật Học Vạn Hạnh.
,Năm 1979, Hòa Thượng tham gia vận động thống nhất và thành lập GHPGVN.
,Năm 1981,Hòa Thượng làm Hiệu trưởng Trường CCPHVN, cơ sở I tại Hà Nội.
,Năm 1984, Hòa Thượng mở Trường CCPHVN, cơ sở II tại TP.HCM.
,Năm 1989, Hòa Thượng thành lập và làm Viện Trưởng Viện Nghiên Cứu Phật Học VN và Hội Đồng Phiên Dịch

,Hòa Thượng đã dịch và biên soạn, các tác phẩm và dịch phẩm chính gồm có:
* Những dịch phẩm, Kinh Tạng Pàli:
,Kinh Trường Bộ.
,Kinh Trung Bộ.
,Kinh Tăng Chi Bộ.
,Kinh Tương Ưng Bộ.
,Kinh Tiểu Bộ:
—a. Kinh Pháp Cú.
—b. Kinh Phật Tự Thuyết.
—c. Kinh Phật Thuyết Như Vậy.
—d. Kinh Tập.
—e. Trưởng Lão Tăng Kệ.
—f. Trưởng Lão Ni Kệ.
—g. Bổn Sanh (2 tập)
* Dịch từ Abhidhamma:
- Thắng Pháp Tập Yếu Luận.
(Abhidhamma Atthasangaha)
* Tác phẩm sáng tác:
1. Phật Pháp ( đồng tác giả)
2. Đường về xứ Phật ( đồng tác giả)
3. Những ngày và những lời dạy cuối cùng của Đức Phật.
4. Đại Thừa và sự liên hệ với Tiểu Thừa.
5. Sách dạy Pàli (3 tập)
6. Chữ Hiếu trong Đạo Phật.
7. Hành Thiền.
8. Lịch sử Đức Phật Thích Ca.
9. Hãy tự mình thắp đuốc lên mà đi.
10. Chánh Pháp và Hạnh Phúc.
* Tiếng Anh:
11. H'suan T'sang, The Pilgrim and Scholar.
(Huyền Trang, Nhà Chiêm bái và Học giả - Thích Nữ Trí Hải dịch Việt)
12. Fa-Hsien, the Unassuming Pilgrim.
(Pháp Hiển, Nhà Chiêm bái khiêm tốn - Thích Nữ Trí Hải dịch Việt)
13. Milindapanha and Nàgasenabhikhusùtra - A Comparative Study.
14. The Chinese Madhyama Àgama and the Pàli Mahjjhima Nikàya - A Comparative Study
(Luận án Tiến sĩ Phật học)
15. Some Teachings of Lord Buddha on Peace Harmony and Humandignity.
* Tác phẩm chưa in:
16. Dàn bài Kinh Trung Bộ
17. Toát yếu Trường Bộ Kinh
18. Toát yếu Trung Bộ Kinh.
,Về thế sự, Hòa thượng Thích Minh Châu còn là đại biểu Quốc hội các khóa VII, VIII, IX và X; tham gia vận động thống nhất và thành lập Giáo hội Phật giáo Việt Nam.
,Tuy nhiên, công việc chính mà Hòa Thượng luôn chú tâm vẫn là biên dịch, biên soạn kinh sách và giảng kinh.
-Trưởng Lão HT. Thích Minh Châu,
Thế danh: Đinh Văn Nam
đã xả bỏ báo thân, viên tịch vào lúc:
9 giờ 5 phút, ngày 01/09/2012
(nhằm ngày 16/07/AL Nhâm Thìn)
tại Thiền Viện Vạn Hạnh.
750 Nguyễn Kiệm, P4, Quận Phú Nhuận, Tp.HCM.
Hưởng thượng thọ 95 tuổi.
TRANGPHATTU.







