-----
Opera-Trangphattu—Nghệ Thuật-Văn Học—Phật Giáo Hiện Đại
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÁP. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn PHÁP. Hiển thị tất cả bài đăng

17 thg 9, 2011

Sự KHỔ (tiếp theo)

真理:苦事

Sự KHỔ

(Tiếp Theo)

...
,PHÀM LÀ
chúng sinh, sanh ra và sống trong thế giới nầy hay trên cõi đời nầy, tất yếu phải đón nhận 3 nỗi thậm khổ.
,Đó là:
-Hành-Khổ, Hoại-Khổ và Khổ-Khổ.

,Trong thế giới nầy, phàm tất cả những gì bị chi phối bởi quy luật Vô Thường; có sự biến hoại, đổi thay, ta gọi chung là các Hành.
,Cũng vậy, thế giới nầy gồm nhiều cõi-giới; là sự tập hợp của các hành-tinh: như mặt trời, quả đất hay các vì sao...
,Sự đổi thay, biến hoại; của các Hành, hay của các hành-tinh thì thật là khủng khiếp, thật đáng phải sợ hãi!

,Đến một thời, thế giới nầy sẽ chuyển hoại. Vào thời kỳ cuối, 7 mặt trời sẽ xuất hiện cùng một lượt. Người ta không còn tìm thấy nước ở trong các đại dương. Rồi ngọn lửa bùng lên, thiêu cháy các cõi giới, cho đến cõi trời Quang Âm Thiên. Cháy như vậy cho đến cả hàng trăm triệu năm.
,Hãy tưởng tượng xem, từ khi thế giới chuyển thành cho tới khi nó bị hư hoại, hủy diệt; thì con người cùng những sinh loài sống trong thế giới phải chịu đựng nỗi cực khổ đến độ nào, trong một thời gian lâu dài như vô hạn!

,Con người, cũng như các sinh loài; từng nếm trải nỗi Khổ khi Tâm trí phải suy tư, lo nghĩ, băn khoăn, sầu muộn-tức là Tâm-Hành; và khi Thân thể phải lao khổ, cực nhọc; hay bị thương tổn, bịnh tật, già yếu-tức là Thân-Hành.
,Nếu chúng sinh không bị chấp thủ, không bị trói buộc vào bất kỳ cõi giới nào, hay bất cứ hành-tinh nào; để khỏi phải chịu sự biến hoại, hủy diệt; không có tâm-hành, không có thân-hành; thì thật là yên ổn, an lạc.
,Như vậy, Hành-là thậm Khổ.

,Tột cùng nỗi Khổ bởi sự đổi thay, biến hoại...ở các Hành, là sự hủy diệt.
,Khi thế giới nầy đến thời điểm hủy diệt, các sinh loài sẽ hứng chịu nỗi cùng khổ khốc liệt.
,Cũng vậy, là khi con người, hay chúng sinh; chịu bao sự khổ nhọc để mưu cầu dục lạc, vật chất, đời sống...; để rồi phải đau khổ nhiều hơn khi những thứ ấy lại bị biến đổi, bị hư hoại; và sẽ gánh chịu nỗi thậm khổ khi chúng bị tước đoạt, bị mất mác, bị hủy diệt.
,Như vậy, Hoại-là thậm Khổ.

,Với chúng sinh, hay con người; một khi vì hoàn cảnh khiến cho tâm đã phải cảm thọ những nỗi khổ đau, ưu sầu, phiền muộn; thì thân thể bất an, tâm tư rối loạn. Nỗi khổ sẽ luôn hành hạ thân tâm, dai dẳng, khó chịu vô cùng.
,Nỗi khổ sanh ra từ tâm lý khổ, là một nỗi thống khổ, bức rức; mà như thể vô cớ, khiến cho con người có khi muốn chết đi còn hơn sống mà phải đón nhận nó.
,Như vậy, Khổ-là thậm Khổ.

,Trong những mối quan hệ với đồng loại, với các loài đồng cộng trú hay với thế giới chung quanh, thì con người cũng như các sinh loài phải cam chịu vô vàn những nỗi Khổ; những nỗi oán hận, thương đau, phiền muộn, khó chịu, bất nhẫn...; bởi những điều trái ý, nghịch lòng luôn luôn xảy đến trong đời sống...

,Vì lòng tham muốn, hoặc vì nhu cầu cuộc sống về thân hay tâm sinh lý; mà các sanh loài phải tìm cầu các món dục lạc về vật chất, hoặc các mối quan hệ về tình cảm. Sự lao nhọc vì phải tìm cầu đã Khổ, mà tìm kiếm không được lại càng thậm Khổ hơn.
,Đó là Cầu Bất Đắc Khổ.

,Mong cầu mà không được đã Khổ. Khi có được rồi mà lại bị mất mác, bị chia lìa-đoạn tuyệt lại càng thậm Khổ hơn. Nỗi khổ đau xót xa khi mất đi những món, những vật gì mà mình từng cưng quý, yêu thương; đặc biệt là khi phải xa lìa với những người, hay với những đồng loại mà mình đang ưu ái.
,Đó là Ái Biệt Ly Khổ.

,Ngược lại, trong đời lại có nhiều là những kẻ xâm phạm, đối kháng, đối nghịch; với quyền lợi, với cuộc sống của mình. Thế nhưng con người cũng như các sinh loài phải thường gặp gỡ, hoặc phải thường đối mặt, tiếp xúc mà không thể nào tránh được; để rồi gây nên nỗi khổ sầu, phiền muộn, chán chường, bất mãn, căm hận...; một cách dai dẳng, khó chịu và ngột ngạt.
,Đó là Oán Tắng Hội Khổ.

,Dù là một con người, hay một sinh loài chuyên sống độc cư một mình; ít có tiếp xúc với muôn loài, với đồng loại, với thế giới chung quanh; ít có nhu cầu hay lòng tham muốn; nhưng đã mang thân Ngũ Uẩn nầy, tất phải thọ những nỗi thậm Khổ, không thể nào né tránh được.
,Khổ vì tứ đại-những thành phần cấu tạo nên sắc thân thường bất hòa, xung khắc, biến hoại.
,Khổ vì tâm ý khó lòng thâu nhiếp, khiến cho thân phải lao vào nhiều sự việc; dù vẫn đoán biết trước là sẽ phải chuốc lấy sự khổ đau, sầu muộn, phiền toái.
,Đó là Ngũ Ấm Xí Thạnh Khổ.
.......
XEM
Phần Kết



TRĂNG PHẬT TỪ

6 thg 7, 2010

QUY Y TAM BẢO

皈依三宝


,Qua Thống Kê,
TRANGPHATTU nhận thấy có nhiều bạn đọc tìm kiếm trên các mạng về nội dung liên quan đến đề tài:
,-"Thuyết Pháp về Quy Y Tam Bảo".
,Đó là nhân duyên để TRANGPHATTU viết về chủ đề trên.

,QUY Y TAM BẢO,
là quay về nương tựa vào 3 ngôi báu tối thượng ở đời: PHẬT, PHÁP, TĂNG.

,ĐỨC PHẬT
là tối thượng ở đời, vì Ngài có đủ 10 danh hiệu:
,"Như Lai, Ứng Cúng, Chánh Biến Tri, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ, Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhơn Sư, Phật-Thế Tôn".
,Đức Phật là bậc giác ngộ hoàn toàn.

,CHÁNH PHÁP,
là Giáo Pháp do chính các Đức Phật tuyên thuyết; là tối thượng ở đời, vì Pháp vượt ngoài thời gian, không bị chi phối bởi thời gian.
,Ai đến với Chánh Pháp sẽ thấy như thật về Sự Thật. Người có trí có thể tự mình hiểu được.
,Chánh Pháp có khả năng hướng thượng; chỉ ra con đường chân chánh, giúp người thực hành diệt tận khổ đau.

,TĂNG SĨ,
là những đệ tử của Đức Thế Tôn; tôn trọng và thực hành theo Chánh Pháp, có khả năng thành tựu Đạo quả giải thoát; là phước điền vô thượng ở đời, sau Đức Phật và hàng Thánh Chúng.

,Trong Chánh Kinh, Đức Phật thuyết:
,"Diệu hạnh, là chúng đệ tử Thế Tôn.
Trực hạnh, Ứng Lý hạnh,
Chân Chánh hạnh, là chúng đệ tử Thế Tôn
".

,Những vị xuất gia nào
—thực tâm tu hành;
—tin, hiểu và tôn trọng Chánh Pháp;
—chấp nhận Giới Luật;
—chuyên tâm thực hành các Pháp môn hướng về mục đích giải thoát;

chính là đệ tử của Đức Thế Tôn, có đầy đủ các đức hạnh kể trên.

,Trong thời điểm hiện tại; nếu ai chưa đọc, chưa học, chưa tin hiểu và không tôn kính Chánh Kinh; là bộ
ĐẠI TẠNG KINH
(Nikaya),

thì những người ấy chưa từng biết Quy Y Tam Bảo bao giờ!

,Vì sao vậy?
,Vì những người ấy sẽ chưa từng biết về thật Phật, về thật Pháp, về thật Tăng.
,Do không thực biết về Phật, về Chánh Pháp, về Giới Hạnh Tăng; nên gặp nhiều tu sĩ không hành Pháp vẫn nhận đó là Tăng; nghe những gì hạng Tăng trên truyền tụng rồi cho đó là Pháp, xem tạp giáo ấy là lời Phật tuyên thuyết.
,Do vậy, đa số người, muốn Quy Y Tam Bảo, mà rồi chỉ được
QUY Y «TAM BÁO».

,Trong thời điểm hiện nay, khó có thể có một hội chúng Tăng đúng thực nghĩa, đúng thật hạnh.
,Đức Phật đã nhập Niết Bàn.
,Chi có Chánh Pháp gần như còn nguyên vẹn trong Đại Tạng Kinh-Nikaya.
,Như vậy,
trong thời điểm nầy, có ai muốn Quy Y Tam Bảo, trước hãy Quy Y Pháp Bảo.

,Trong thời điểm nầy, ai tìm đọc, tìm học để tin hiểu và tùy điều kiện, khả năng của mình mà thực hành theo những lời Đức Phật đã dạy trong Chánh Kinh; thì đó chính là người đã Quy Y Pháp Bảo.
,Người ấy biết:
,Đây, là con đường chân chánh và duy nhất dẫn đến giác ngộ và giải thoát.

,Nhờ Chánh Kinh, người ấy sẽ biết đến công hạnh của các Đức Phật; biết phân biệt về một Đức Phật thật có trong lịch sử và sẽ loại bỏ các huyền thoại-truyền thuyết về các vị không thật có.
,Từ đó, người ấy biết:
,Đức Phật đích thực là bậc tối thượng ở đời và khởi tâm nguyện muôn kiếp sẽ quy y theo Ngài.
,Như vậy, từ Quy Y Pháp Bảo, người ấy sẽ Quy Y Phật Bảo.

,Nhờ Chánh Kinh, người ấy sẽ hiểu biết về:
—HẠNH SA MÔN.
,Từ đó, người ấy biết phân biệt, trong các vị xuất gia, ai là người có hay không có thực hành Sa Môn Pháp; có hay không có hạnh của một bậc Tăng Sĩ.
,Rồi khi đủ nhân duyên, người ấy sẽ gặp một vài vị Tăng Sĩ có giới hạnh, có công đức, có hành Pháp Sa Môn.
,Từ đó, người ấy sẽ hướng về vị ấy để học hỏi, để cung kính, để cúng dường, để tựa nương.
,Đó là Quy Y Tăng Bảo.
,Như vậy, từ Quy Y Pháp Bảo, người ấy sẽ có dịp tùy duyên để Quy Y Tăng Bảo.

,Trong thời điểm nầy, ai Quy Y Tam Bảo tùy thuận Pháp như trên thì mới thật sự hưởng được lợi ích.
,Quy y như vậy, là Tâm quy y, là Trí quy y.
,Ngược lại, nếu không biết Chánh Kinh để làm cơ sở, làm định hướng khi quy y; thì chỉ thành tựu nghi thức quy y, chứ thật thì không được mấy lợi ích gì
.

,Như vậy, dù cho có kẻ đi tu theo Đạo Phật đã mấy mươi năm, đã mang danh Hòa Thượng; mà chưa đọc, chưa học, chưa tin hiểu, chưa tôn trọng, không cung kính đối với Chánh Kinh; thì biết ngay rằng:
,-Kẻ ấy, chưa từng có Quy Y Tam Bảo bao giờ; đừng nói chi đến chuyện Xuất Gia hay danh vị gì thêm nữa cả!!!
,Hãy biết như vậy và cần nhớ rõ điều đó!

,Và mọi người cũng cần phải biết rõ rằng:
,Bất kỳ ai, nếu đã thật sự tin hiểu và tôn thờ Tạng Chánh Giáo; thì tất cả những gì thuộc về tạp giáo-tạp thuyết đều phải bị loại bỏ!
,Bất luận kẻ nào, mà tạp giáo chưa từ bỏ; thì không thể có sự thâm nhập về Chánh Pháp nơi kẻ đó!


XEM
(Tiếp Theo)

TRANG PHẬT TỬ.

Các Bài Post Liên Quan:


ĐẠI TẠNG KINH


NIỆM PHẬT-NIỆM PHÁP-NIỆM TĂNG

9 thg 1, 2010

PHẬT PHÁP với THỜI HIỆN TẠI

佛法-现在时


,PHẬT PHÁP,
là các phương pháp mà Đức Phật đã giảng dạy cho loài người để đi trên mỗi con đường; hướng tới cao thượng, hướng tới giải thoát sinh tử là tối hậu; và được lưu truyền trong Kinh Tạng.

,Trải qua bao đời, dù có bị sao chép qua nhiều bản, nhưng tạng Giáo Pháp vẫn còn gần như nguyên vẹn tinh hoa.
,Đặc biệt kể từ khi bộ
ĐẠI TẠNG KINH
-Nikaya

đã được HT. Th.Minh Châu dịch ra tiếng Việt.
,Đó là một diễm phúc, là đại thiện phước đức, là đại thiện nhân duyên cho hàng hậu học, cho những ai tìm cầu Chánh Pháp, cho những ai có đức tin hướng về Đạo Phật; cho hàng xuất gia chân chánh thực tâm tu hành hướng về giác ngộ, hướng về giải thoát.

,Nhưng, thật đáng tiếc; là đã quá ít người biết, ít người tin hiểu, ít người kính trọng Pháp Tạng kể trên.
,Phần vì nhiều người không đủ phước đức, không đủ nhân duyên để gặp, để đọc, để học và hành theo. Phần vì nhiều người có kiến chấp mê lầm, cho đó là tiểu pháp, không đáng để học và hành. Phần vì đa số kẻ xuất gia ngày nay sống thiên về lợi dưỡng, thiên về dục lạc, ham mê danh lợi. Họ đã cố tình biên viết đủ loại kinh sách tạp nhạp, cùng với băng đĩa thịnh hành, thuyết giảng, thu băng truyền bá; mà trong đó, phần nhiều là nói lên những điều cạn cợt, thậm chí còn sai lạc bậy bạ.
,Hơn nữa, phần vì đa số Phật Tử và Tín Thí Chủ ít hiểu biết về Chánh Pháp, về Giới của hàng xuất gia; nên họ đã dễ dàng tin tưởng, dễ dàng chấp nhận. Lại thêm nhiều mê tín, như tin cầu an, cầu siêu; tin xem bói, coi tướng...v.v.

,Tất cả những điều trên đã làm cho Chánh Pháp bị che lấp, bị lãng phế, bị lu mờ, bị hiểu sai lạc.
,Do vậy, số người biết, tin, hiểu về Phật Pháp ngày càng ít; và số người thực hành Giáo Pháp cũng do đó mà ít hơn xưa.
,Trong số ít ấy, một số người thì tham lợi danh, tham làm nổi bề mặt, tham xây chùa dựng tháp, tham làm cảnh...
,Dù có trình độ uyên thâm, họ cũng từ từ rời xa Giáo Pháp. Rốt cuộc, chỉ nói hay nhiều hơn thực hành tốt.

,Một số người, tuy hiểu biết Chánh Pháp, nhưng bị phân biệt đối xử, bị chê là hạng tiểu thừa; nên họ ít nhận được sự hộ trì từ phía Phật tử và Tín thí chủ.
,Các vị nầy luôn phải đối mặt với đời sống khó khăn, thiếu thốn về vật thực cũng như chưa có chỗ ở tại một trú xứ thích hợp cho việc tu thiền. Vị ấy lại chưa đủ phước duyên để tự tạo lập.
,Do đó, dù vị ấy đầy tâm huyết, cũng khó lòng đạt được mục đích.

,Một số Phật tử, người mộ Đạo; có trí tuệ, có tìm đọc, học, hiểu về Đại Tạng Kinh, thì họ lại chưa thể thoát ly đời sống gia đình. Cho nên, họ chỉ lấy việc cúng dường làm căn bản; hoặc giữ 5 giới, 8 giới mà không thể tiến xa hơn được nữa.

,Khi Chánh Pháp bị che lấp, bị lu mờ; thì tạp giáo được mặc sức hoành hành, truyền bá.
,Hậu quả là ngày càng làm cho nhiều người mê muội hơn, bạc phước hơn. Những nỗi khổ đau, bất hạnh, chướng nạn theo đó sẽ tăng lên thêm; phước đức, trí tuệ cũng vì đó mà giảm thiểu đi.
,Cho đến độ, Thanh Hải xưng Vô Thượng Sư cũng được nhiều người chấp nhận; hay như Thánh Nữ Chơn Như; hay như Thánh Anh của Chơn Như Viện Chủ. Chưa hết, còn bao kẻ xưng là Phật, là Bồ Tát, là Tổ, là Hậu Tổ của các phái như Đại Thừa, Thiền Tông, Mật Tông, Khất Sĩ...

,Thật không đủ sức để mà kể, để mà diễn tả.
,Phật Pháp
với Thời Hiện Tại

đang có bức phác họa như vậy đó.

TRANG PHẬT TỬ